Hệ thống quan trắc khí CST-40

Hệ thống giám sát, cảnh báo khí tập trung CST-40

I. Mục đích sử dụng

[1] Hệ thống quan trắc khí mỏ CST-40 dùng trong lĩnh vực kiểm soát an toàn được thiết kế, chế tạo để giám sát toàn diện các chỉ số về môi trường làm việc ở dưới lò của mỏ trong phạm vi hiểm họa nguy cơ cháy nổ khí mêtan, khí CO, Oxy, nhiệt độ trong lò, lưu lượng gió và một số khí khác.

[2] Nhiệm vụ chính của hệ thống là giám sát và quan trắc trực quan hiểm họa của khí mêtan và nguy hiểm cháy nổ trong các đường lò dưới lòng đất, trong trường hợp nồng độ khí vượt quá giới hạn cho phép, vượt ngưỡng lập tức hệ thống ngắt ngay nguồn điện (< 15 giây để ngắt điện), điều đó có tác động không gây ra một số vụ nổ khí mêtan hoặc bụi than

[3] Hệ thống CST-40 có thể mở rộng đến các thiết bị khai thác và phụ vụ khai thác hoặc các cảm biến khác để đo lường các thông số muốn xác định, thiết kế chế tạo của nó cho phép bạn gửi tín hiệu vào tủ điều khiển trung tâm các tín hiệu chuyển đổi áp dụng chung cho hệ thống

[3] Thiết bị làm nhiệm vụ này là tủ truyền tín hiệu kỹ thuật số dưới lò CSD-1. Cho phép bạn kết nối một loạt các đầu đo kỹ thuật số khác. Nó có 40 đầu vào cho phép kiểm soát hoạt động của các bộ cảm biến và kiểm soát Đóng/ Ngắt các mạch điện và có thể nhận 640 tín hiệu nhị phân và phát ra 320 tín hiệu cảnh báo để kiểm soát an toàn nguồn điện, điều khiển kích hoạt báo động hoặc điều khiển các thiết bị điện khác.

[4] Tủ điều khiển trung tâm mã hiệu CST-40 là một phần của hệ thống quan trắc khí được gọi là phần chính của trạm quan trắc, có nhiệm vụ:

– Đo liên tục, xử lý, hiển thị và lưu trữ các tín hiệu, thông số của đầu đo của các trang thiết bị đang làm việc dưới lò, nơi có nguy cơ cháy nổ khí mêtan hoặc bụi than.

– Được cài đặt thiết lập ngưỡng báo động trong trường hợp vượt quá giá trị cho phép hệ thống tự động ngắt nguồn điện của máy móc thiết bị trong khu vực nguy hiểm.

– Thực hiện kiểm tra hiệu chuẩn của đầu đo cài đặt ở phía dưới đầu đo với một cái gọi là phần ngắt.

– Phát tín hiệu báo động hệ thống truyền dẫn bằng cách phát ra âm thanh và tín hiệu ánh sáng.

II. Thành phần của hệ thống

III. An toàn 

[1] Tủ điều khiển trung tâm mang lại cho ta mực độ an toàn cao chức năng hoạt động thông qua thiết kế chế tạo thích hợp của tủ. Tủ điều khiển được cung cấp điện để đảm bảo cung cấp điện liên tục, điều này rất quan trọng đối với việc bảo đảm tính liên tục của việc thu thập và ghi dữ liệu.

[2] Phần mềm điều khiển từ xa CST-40 được bảo vệ đúng cách và để bảo vệ tập tin hệ thống từ các truy cập và sửa đổi dữ liệu trái phép

[3] Chỉ người quản trị hệ thống (người được biết tài khoản và mật khẩu) nhờ đó người dùng có thể đưa thêm cấu hình các chức năng khác nhau vào tủ điều khiển.

[4] Người vận hành hệ thống có tài khoản, mật khẩu bảo vệ.
– Cấu hình mỗi kênh của tủ điều khiển dùng để đo và làm việc với một đầu đo.
– Thay đổi ngưỡng báo động thiết lập mức nồng độ khí
– Sự kiện nào đó cần mô tả bình luận phù hợp sẽ được ghi lại.
– Kích hoạt hoặc vô hiệu hóa một đường truyền từ đầu đo
– Gửi các xung cho mỗi kênh đo bằng tay.
– Loại trừ xung thiết lập thiết lập báo động khi đầu đo đăng kỹ dưới ngưỡng báo động.
– Hệ thống hoạt động dưới sự kiểm soát của máy chủ theo thời gian thực.
– Tủ điều khiển bằng một ma trận loại trừ, có thể được khóa. Điều này có thể thực hiện chỉ ẩn điều hành. Tuy nhiên để đảm bảo tối đa thời gian khóa an toàn là 15 phút.

IV. Kết luận
Hệ thống quan trắc khí mỏ CST-40 đáp ứng các yêu cầu đặt ra trong luật pháp hiện hành có liên quan cả về chức năng, điều kiện vận hành, cũng như độ tin cậy hoạt động của các thiết bị. Nó là hệ thống quan trắc toàn diện, được thiết kế chế tạo dùng cho các mỏ nhỏ và cả mỏ lớn. Hệ thống này đã được áp dụng đang hiện hữu tại nhiều mỏ Châu Âu, Việt Nam nơi mà nó đang đóng vai trò là giải pháp hoàn hỏa để tăng cường sự an toàn lao động cho những người thợ mỏ.

Bài viết Liên quan

Cách nhận biết phụ tùng ARO chính hãng nhanh và chính xác
Cách nhận biết phụ tùng ARO chính hãng nhanh ...
Phụ tùng đóng vai trò quan trọng đối với hiệu suất và độ ổn định của bơm màng khí nén ARO. Màng bơm, bi, đế bi, gioăng làm kín, O-ring và các bộ kit sửa chữa đều phải tương thích với model bơm, kích thước thiết bị và loại môi chất đang sử dụng. Chỉ cần một chi tiết không đúng tiêu chuẩn cũng có thể khiến bơm giảm lưu lượng, rò rỉ hoặc dừng hoạt động ngoài kế hoạch. Tuy nhiên, nếu chỉ quan sát hình dáng bên ngoài, người mua rất khó phân biệt phụ tùng chính hãng với sản phẩm không rõ nguồn gốc. Để kiểm tra chính xác hơn, khách hàng cần kết hợp nhiều yếu tố như bao bì, tem bảo an, mã QR, mã P/N, Serial và ký hiệu được dập trực tiếp trên phụ tùng. Bài viết dưới đây hướng dẫn cách nhận biết phụ tùng ARO chính hãng nhanh chóng, giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro mua nhầm sản phẩm không phù hợp.
Cách vệ sinh bình khí thở SCBA sau khi sử dụng
Cách vệ sinh bình khí thở SCBA sau khi sử dụng
Cách vệ sinh bình khí thở SCBA  khi Bình khí thở SCBA  tiếp xúc trực tiếp với khói, bụi, hóa chất, mồ hôi và nhiều chất ô nhiễm trong quá trình chữa cháy hoặc cứu hộ. Nếu không được vệ sinh đúng cách, chất bẩn có thể bám trên mặt nạ, dây đeo và các bộ phận khí nén, ảnh hưởng đến sức khỏe người dùng và khả năng hoạt động của thiết bị. Việc làm sạch cần được thực hiện sau mỗi lần sử dụng, đặc biệt khi SCBA đã tiếp xúc với khói cháy hoặc hóa chất. Tuy nhiên, không thể áp dụng một phương pháp vệ sinh chung cho mọi model. Đơn vị sử dụng phải tuân thủ hướng dẫn của nhà sản xuất và quy trình khử nhiễm phù hợp với chất nguy hiểm đã tiếp xúc.
Bình khí thở SCBA sử dụng được trong bao lâu?
Bình khí thở SCBA sử dụng được trong bao lâu?
Bình khí thở SCBA thường có thời gian sử dụng danh định khoảng 30, 45 hoặc 60 phút, tùy dung tích, áp suất và cấu hình bình khí. Tuy nhiên, đây không phải thời gian người dùng chắc chắn có thể làm việc trong môi trường nguy hiểm. Khi chữa cháy, cứu hộ hoặc thực hiện công việc nặng, lượng khí tiêu thụ có thể tăng nhanh do vận động và căng thẳng. Thời gian sử dụng thực tế vì vậy thường ngắn hơn thời gian danh định được công bố. Người dùng cần theo dõi đồng hồ áp suất, tín hiệu cảnh báo và chủ động dành đủ khí cho quá trình rút lui.